The Angel in the House — Page 1
ĐÂY LÀ LỜI MỞ ĐẦU.
THE PROLOGUE.
1
1
'Ngựa của tôi không có cánh để vươn tới Cõi trời nơi các vì sao ngân vang; Nó chỉ kéo một chiếc xe ọc ạch, Được vui bởi những tiếng chuông đôi của vần thơ; Và nếu nghe tiếng gọi mê hoặc của Danh Vọng Con Pegasus quê mùa của tôi vểnh tai lên, Thì cái ách xe của đời thường siết chặt cổ nó, Và nó đủ khôn để không nhảy chồm hay hất bờm.'
'MINE is no horse with wings, to gain The region of the spheral chime; He does but drag a rumbling wain, Cheer'd by the coupled bells of rhyme; And if at Fame's bewitching note My homely Pegasus pricks an ear, The world's cart-collar hugs his throat, And he's too wise to prance or rear.'
2
2
Đó luôn là câu trả lời của Vaughan dành cho Vợ mình, Người mong muốn danh tiếng cho ông hơn cả chính ông; Nhưng trong thâm tâm, ông luôn nung nấu Làm thế nào để vì nàng mà gây dựng tên tuổi. Đã ba lần được trao vòng nguyệt quế thơ ca, Và đã giành được những vinh dự khác ở trường đại học, Nếu muốn, ông có thể trở nên nổi tiếng, Ông gần như không nghi ngờ điều đó, còn nàng thì hoàn toàn chắc chắn; Và bằng những lời lẽ cao vời hơn, ông đã nói Cùng nàng, vào Ngày Cưới của họ, (Lần thứ tám), khi họ dạo bước qua những cánh đồng, Với những tiếng reo hò của các con trên đường.
Thus ever answer'd Vaughan his Wife, Who, more than he, desired his fame; But, in his heart, his thoughts were rife How for her sake to earn a name. With bays poetic three times crown'd, And other college honours won, He, if he chose, might be renown'd, He had but little doubt, she none; And in a loftier phrase he talk'd With her, upon their Wedding-Day, (The eighth), while through the fields they walk'd, Their children shouting by the way.
3
3
'Không phải là không trân trọng ân sủng của thơ ca, Cũng không phải thờ ơ với danh tiếng cao quý, Tôi đã suy nghĩ lâu dài và sâu sắc Về điều tôi nên hát, cách gây dựng tên tuổi, Suy xét thấu đáo chủ đề nào chưa được ngợi ca, Lý do nào xứng đáng với cái giá của vần thơ, Còn lại để tháo gỡ cái lưỡi của nhà thơ Trong những ngày cuối này, những ngày tàn của thời gian, Hãy biết rằng với tôi, dù sinh ra muộn màng như vậy, Vẫn có, vượt qua cả xứng đáng, rơi vào tay (Mong vận may lớn lao khiến tôi trở nên vĩ đại!) Chủ đề đứng đầu muôn thuở, được hát sau cùng tất thảy. Trên mảnh đất xanh tươi chưa được khám phá, Nhưng gần nơi bao người khác đang ca hát, Tôi đã tìm thấy chính cái đầu nguồn Từ đó Suối Pierian tuôn trào.'
'Not careless of the gift of song, Nor out of love with noble fame, I, meditating much and long What I should sing, how win a name, Considering well what theme unsung, What reason worth the cost of rhyme, Remains to loose the poet's tongue In these last days, the dregs of time, Learn that to me, though born so late, There does, beyond desert, befall (May my great fortune make me great!) The first of themes, sung last of all. In green and undiscover'd ground, Yet near where many others sing, I have the very well-head found Whence gushes the Pierian Spring.
Vocabulary
- PROLOGUE
- Phần mở đầu của một cuốn sách hoặc vở kịch
- MINE
- Thuộc về tôi; hoặc mỏ khai thác khoáng sản
- horse
- Con ngựa, động vật bốn chân dùng để cưỡi
- wings
- Đôi cánh, bộ phận giúp chim hoặc vật bay
- gain
- Đạt được hoặc thu được điều gì đó có giá trị
- region
- Vùng hoặc khu vực địa lý rộng lớn
- spheral
- Thuộc về hình cầu hoặc các thiên thể trên bầu trời
- chime
- Tiếng chuông ngân vang du dương, hài hòa
- drag
- Kéo lê vật nặng trên mặt đất một cách chậm chạp
- rumbling
- Âm thanh ầm ầm, rền vang như sấm hoặc xe nặng
- wain
- Xe ngựa kéo lớn dùng để chở hàng hóa nông nghiệp
- Cheer
- Niềm vui, sự cổ vũ hoặc làm cho ai vui lên
- coupled
- Được ghép đôi hoặc kết nối lại với nhau
- bells
- Những chiếc chuông tạo ra âm thanh khi rung
- rhyme
- Vần điệu, sự hợp âm của từ cuối các dòng thơ
Unlock audio playback, vocabulary games, and reading progress tracking.
Create free account →