Beowulf: An Anglo-Saxon Epic Poem — Page 4
Trong số những dịch giả đã sử dụng thơ có vần điệu, một số người đã viết theo quan điểm có vẻ như là sai lầm.
Of those translators who have used verse, several have written from what would seem a mistaken point of view.
Liệu có phù hợp không, chẳng hạn, khi những bài phát biểu trang trọng và nghiêm túc của Beowulf và Hrothgar lại được đặt vào thể thơ ballad, nhẹ nhàng và bay bổng?
Is it proper, for instance, that the grave and solemn speeches of Beowulf and Hrothgar be put in ballad measures, tripping lightly and airily along?
Hay, một lần nữa, liệu có thích hợp không khi âm nhạc chiến trận thô ráp của thơ Anglo-Saxon lại được diễn giải cho chúng ta qua những nhịp điệu trơn tru của thơ không vần hiện đại?
Or, again, is it fitting that the rough martial music of Anglo-Saxon verse be interpreted to us in the smooth measures of modern blank verse?
Liệu chúng ta có nghe thấy điều được gọi một cách đẹp đẽ là "tiếng bước chân vang vọng của một chiến binh mặc giáp trụ" không?
Do we hear what has been beautifully called "the clanging tread of a warrior in mail"?
Trong tất cả các bản dịch tiếng Anh về Beowulf, chỉ có bản dịch của Giáo sư Garnett mới truyền đạt được một cách đầy đủ những đặc điểm chính của bản anh hùng ca Teutonic vĩ đại này.
Of all English translations of Beowulf, that of Professor Garnett alone gives any adequate idea of the chief characteristics of this great Teutonic epic.
Thể thơ được sử dụng trong bản dịch hiện tại được cho là gần với bản gốc nhất trong khả năng mà tiếng Anh hiện đại có thể đáp ứng.
The measure used in the present translation is believed to be as near a reproduction of the original as modern English affords.
Các nhịp điệu rất giống với những gì Browning đã sử dụng trong một số bài thơ ấn tượng nhất của ông.
The cadences closely resemble those used by Browning in some of his most striking poems.
Bốn trọng âm của thơ Anglo-Saxon được giữ lại, và thesis cùng anacrusis được cho phép ở mức độ nhất quán với nhịp điệu đều đặn.
The four stresses of the Anglo-Saxon verse are retained, and as much thesis and anacrusis is allowed as is consistent with a regular cadence.
Phép điệp âm đã được sử dụng rộng rãi; nhưng người ta cho rằng tai nghe hiện đại khó có thể chấp nhận nó ở mọi dòng thơ.
Alliteration has been used to a large extent; but it was thought that modern ears would hardly tolerate it on every line.
Vần cuối dòng đã được sử dụng đôi khi; vần bên trong, dùng rải rác.
End-rhyme has been used occasionally; internal rhyme, sporadically.
Cả hai đều có một số cơ sở trong thơ Anglo-Saxon. (Về vần cuối dòng, xem 1_53, 1_54; về vần bên trong, xem 2_21, 6_40.)
Both have some warrant in Anglo-Saxon poetry. (For end-rhyme, see 1_53, 1_54; for internal rhyme, 2_21, 6_40.)
Điều mà Gummere gọi là "người tạo vần" đã được duy trì một cách có chủ ý; nghĩa là, âm tiết có trọng âm đầu tiên trong nửa dòng thứ hai luôn mang phép điệp âm; và âm tiết có trọng âm cuối cùng chỉ điệp âm một cách rải rác.
What Gummere calls the "rime-giver" has been studiously kept; viz., the first accented syllable in the second half-verse always carries the alliteration; and the last accented syllable alliterates only sporadically.
Vocabulary
- translators
- người dịch văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác
- verse
- thơ hoặc đoạn văn có vần điệu, nhịp điệu
- several
- một số, nhiều hơn hai nhưng không quá nhiều
- seem
- có vẻ như, trông như thể điều gì đó là đúng
- mistaken
- sai lầm, hiểu nhầm hoặc không chính xác về điều gì
- point
- quan điểm, ý kiến hoặc mục đích cụ thể của vấn đề
- view
- quan điểm, cách nhìn nhận về một vấn đề nào đó
- proper
- đúng đắn, phù hợp và thích hợp với hoàn cảnh
- instance
- ví dụ, trường hợp cụ thể minh họa cho điều gì
- grave
- nghiêm trọng, trang nghiêm hoặc mang tính u buồn
- solemn
- trang nghiêm, thành kính và mang không khí nghiêm trang
- speeches
- những bài phát biểu hoặc diễn văn trước nhiều người
Unlock audio playback, vocabulary games, and reading progress tracking.
Create free account →